Thursday, February 4, 2010

CẢNG CẦN THƠ HIỆU QUẢ TRONG ĐẦU TƯ CÔNG NGHỆ MỚI


Ông Phan Thành Tiến




Góc thời sự Hoàng Dũng Huệ

CẢNG CẦN THƠ HIỆU QUẢ TRONG ĐẦU TƯ CÔNG NGHỆ MỚI

Nhân dịp tổng kết cuối năm 2009, cảng Cần Thơ đã tổ chức gặp mặt báo chí. Nhà báo đã có dịp phỏng vấn nhanh ông Phan Thành Tiến, Giám đốc Cảng Cần Thơ.

PV: Được biết trong năm 2009 Cảng Cần Thơ đạt trên 7,5 triệu tấn/năm. Được Tổng công ty hàng hải Việt Nam đánh giá là một Cảng năng động trong Sản xuất Kinh doanh có tầm vóc là một cảng biển lớn vực dậy toàn bộ khu vực đồng bằng Sông Cửu Long. Xin ông giới thiệu một vài nét tiêu biểu về quá trình này?

Ông Phan Thành Tiến:

Năm 2009, mặc dù bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động khó khăn, dẫn đến Cảng Cần Thơ cũng gặp không ít khó khăn trong sản xuất kinh doanh, nhưng đơn vị vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng cao.

Nhưng với tinh thần đoàn kết khắc phục khó khăn để không ngừng phát triển, quán triệt chủ trương chính sách đường lối của Đảng và Nhà nước “Thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững” theo tinh thần Nghị quyết số 20/2008/NQ-CP, kết quả một năm qua, Cảng Cần Thơ đã gặt hái được nhiều thành tích, tốc độ tăng trưởng của năm nay tăng cả số lượng và chất lượng, Cảng Cần Thơ làm ăn có hiệu quả, đời sống của anh em CNVC được nâng lên – Kết quả đạt được chính là sự phấn đấu không ngừng của tập thể CNVCLĐ và sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo Tổng công ty Hàng hải Việt Nam đối với Cảng Cần Thơ trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư. Đây là những thuận lợi góp phần giúp Cảng Cần Thơ hoàn thành xuất sắc các mục tiêu kế hoạch năm 2009, với thành tích đó đơn vị đã được tặng CỜ THI ĐUA XUẤT SẮC của Tổng công ty và nhiều hình thức khen thưởng cho cá nhân và tập thể.

PV: Sản lượng hàng hóa thông qua Cảng Cần Thơ là những mặt hàng nào? Hiệu quả trong Sản xuất Kinh doanh năm 2009?

Ông Phan Thành Tiến:

Sản lượng hàng hóa thông qua năm 2009 của Cảng Cần Thơ chủ yếu là các mặt hàng lương thực, than đá, thạch cao, sắt thép, cát XK, container, gỗ…, năm nay cũng là năm đầu tiên Cảng Cần Thơ đạt trên 7,5 triệu tấn/năm kể từ khi thành lập, cơ cấu hàng hóa năm nay có biến động; hàng xuất khẩu tăng đột biến nhất là mặt hàng cát xuất khẩu chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong tổng sản lượng, hàng hóa nhập ngoại giảm, hàng hóa nội địa tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Riêng sản lượng hàng hóa thông qua năm 2009 được thực hiện 7.532.827 tấn đạt 251% KH năm 2009, so với năm trước đạt 265%, tăng 165% với 4.689.729 tấn (Chưa tính 201.221 tấn clinker bốc xếp tại cảng Bình Trị -Kiên Giang vào sản lượng thực hiện nêu trên). Trong đó xuất ngoại thực hiện được 6.797.845 tấn, đạt 296% KH năm, so với năm trước đạt 328%, tăng 228% với số tấn 4.723.370 tấn. Đối với công tác nhập ngoại thực hiện được 190.851 tấn, đạt 100% KH năm, so với năm trước đạt 73%, giảm 27% với số tấn 72.073 tấn. Về công tác Nội địa Cảng Cần Thơ thực hiện: 544.131 tấn, đạt 106% KH năm, so với năm trước đạt 108%, tăng 8% với số tấn 38.432 tấn. Ngoài ra, hàng containers thực hiện năm 2009: 8.052 Teus, đạt 34% KH, so với năm trước đạt 39%, giảm 61% với số lượng 12.854 teus. Đặc biệt, Năng suất bốc xếp bình quân: 21.689 tấn/ngày. Năm 2009 tàu từ 5.000 tấn trở lên là 761 lượt, trong khi cả năm 2008 chỉ có 216 lượt.

Ngoài kế hoạch sản xuất cơ bản mà Tổng Giám đốc đặt ra cho Cảng Cần Thơ, đơn vị cũng đã tận dụng khả năng và những thuận lợi để vươn ra các tỉnh bạn, có lúc phải có mặt khắp các tỉnh ĐBSCL như An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Đồng Tháp… để tìm kiếm công ăn việc làm cho anh em công nhân với mục đích tăng nguồn thu cho đơn vị. Cụ thể năm 2009 Cảng Cần Thơ bốc xếp clinker cho khách hàng Holcim, tỉnh Kiên Giang cách Cảng Cần Thơ gần 200km, thực hiện bốc xếp được 36 chuyến tàu, đạt sản lượng 201.221 tấn, đạt 126% KH năm, so cùng kỳ năm 2008 đạt 111%, tăng 11%. Cảng Cần Thơ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Tổng doanh thu năm 2009 thực hiện là: 118.646.723.366 đồng đạt 106% KH cả năm, so thực hiện cùng kỳ năm trước đạt 118%, tăng 18% với số tiền 18.188.970.832 đồng.

PV: Xin ông cho biết hiệu quả những dự án đầu tư mới để mở rộng Cảng Cần Thơ xứng tầm với khu vực đồng bằng Sông Cửu Long?

Ông Phan Thành Tiến:

Cảng Cần Thơ đã cố gắng tiếp thị, thu hút khách hàng, mở rộng thị phần, tăng khả năng cạnh tranh, chú trọng chất lượng dịch vụ và tăng cường mở rộng sản xuất kinh doanh tại các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tăng cường phát triển kinh doanh dịch vụ hàng hải và kinh doanh thương mại. Năm 2009 Cảng Cần Thơ tận dụng mọi nguồn lực sẵn có phát huy mọi khả năng phục vụ sản xuất trong kế hoạch cũng như ngoài kế hoạch, tìm kiếm các dịch vụ bên ngoài để tăng thu và tạo công ăn việc làm cho CBCNVC, tránh lãng phí tài sản và lao động, tiền vốn đảm bảo hoàn thành tốt chỉ tiêu doanh thu của đơn vị, mức độ tăng thu của đơn vị năm nay vượt kế hoạch và tăng trưởng cao so với năm 2008.

Tình hình lợi nhuận năm 2009: Cảng Cần Thơ dùng các biện pháp tiết kiệm về mọi mặt đặc biệt giảm thiểu tối đa chi phí quản lí để hạ giá thành, cảng thực hiện nghiêm túc các Thông tư cũng như các Chỉ thị và Quyết định của cấp trên về quản lí, các biện pháp tiết kiệm đề ra trong năm đã thực sự mang lại hiệu quả, cụ thể Cảng Cần Thơ đạt tổng lợi nhuận trước thuế: 4.304.365.198 đồng, đạt 113% KH tăng 13% với số tiền 504.365.198 đồng, so cùng kì năm trước đạt 78% giảm 22% với số tiền là 1.217.886.099 đồng.

Đạt được kết qủa như trên chứng tỏ năm 2009 Cảng Cần Thơ đã phấn đấu không ngừng, bằng mọi biện pháp để tăng năng suất, tiết kiệm chi phí, tránh lãng phí, tăng cường hoạt dộng các dịch vụ trong và ngoài khu vực để tăng doanh thu hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Cảng luôn thực hiện đúng theo các quy định về thuế của Nhà nước, năm 2009 số thuế đã nộp là 3.045.094.650 đồng. Công tác đầu tư xây dựng, mua sắm thiết bị năm 2009 Cảng Cần Thơ là 81,5 tỷ đồng.

Lương bình quân người/tháng là 5,4 triệu đồng, Thu nhập bình quân người/tháng là 5,8 triệu đồng. Lương và thu nhập của công nhân viên chức ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước cụ thể như sau (Kể cả lương tháng 13).

Riêng đối với Công tác bốc xếp và vận tải, năm 2009 Cảng Cần Thơ có tổng 73 phương tiện cơ giới gồm cần cẩu, xe nâng hàng, xe tải, đầu kéo, rơ moóc, tàu kéo, sà lan. Các phương tiện được thường xuyên kiểm tra bảo dưỡng để phục vụ tốt cho sản xuất. Đội cẩu bờ, cẩu tàu và vận tải thủy bộ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đội Cẩu tàu thực hiện bốc xếp: 250.840 tấn, BX đạt 103% KH tăng 03%, Trong đó Bốc xếp tại bến nhà máy Holcim : 201.221 tấnBX đạt 126% KH tăng 26%. Tàu ngoại được114 lượt đạt 95% KH. Tàu nội được 20 lượt đạt 22% KH.

PV: Định hướng sản xuất kinh doanh và chỉ tiêu của Cảng Cần Thơ trong năm 2010?

Ông Phan Thành Tiến:

Năm 2010, với dự báo tình hình kinh tế thế giới vẫn đang biến động phức tạp, tác động đến sự phát triển trong nước, do đó sẽ ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của đơn vị. Cảng Cần Thơ phấn đấu vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế họach kinh doanh, cải thiện đời sống và ổn định thu nhập cho người lao động.

Căn cứ vào kết quả SXKD năm 2009 và trên cơ sở nhận định tình hình SXKD năm 2010, dự kiến tình hình lưu thông hàng hóa sẽ khả quan hơn trừ mặt hàng cát còn nhiều biến động do nhu cầu nhập cát của Singapore và chính sách quản lý của Chính phủ Việt Nam, nên trong cơ cấu hàng hóa trong năm 2010 không tính đến số lượng cát xuất khẩu, còn lại các mặt hàng khác sẽ ổn định và tăng, sản lượng thông qua Cảng Cần Thơ : 1.200.000 tấn (không có cát xuất khẩu) so với thực hiện 2009 tăng 34%. Trong đo Hàng hóa xuất khẩu được 251.000 tấn so với thực hiện 2009 đạt 157%, Hàng hóa nhập khẩu được 253.000 tấn so với thực hiện 2009 đạt 133%, Hàng hóa nội địa được 696.000 tấn so với thực hiện 2009 đạt 128%, Container được12.000 Teus so với thực hiện 2009 đạt 149%. Sản lượng hàng hóa thông qua năm 2010 của Cảng Cần Thơ chủ yếu vẫn là các mặt hàng chiến lược như lương thực, than đá, thạch cao, container, clinker, Sắt thép, gỗ, vv. Nhưng sản xuất còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khách quan, muốn hoàn thành kế hoạch 2010 thực sự không dễ dàng, vì vậy toàn thể CBCNVC phải phấn đấu không ngừng về mọi mặt để hoàn thành kế hoạch. Ngoài ra Cảng Cần Thơ còn phải thực hiện công tác xếp dỡ cho Công ty Holcim tại cảng Bình Trị – Kiên Giang, kế hoạch khoảng 200.000 tấn, chưa tính vào sản lượng trên. Hàng container là mặt hàng chiến lược chiếm tỉ trọng tương đối trong tổng sản lượng hàng hóa cho nên chúng ta luôn quan tâm đầu tư chiến lược lâu dài đối với công tác bốc xếp container về phương tiện và kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện tại và tương lai .

Chỉ tiêu Kế hoạch tài chính trong năm 2010 là Tổng Doanh Thu thuần đạt 65 tỷ đồng, Tổng Chi Phí toàn bộ đạt 63 tỷ đồng, Tổng Lợi nhuận đạt 2 tỷ đồng

Kế hoạch đầu tư năm 2010 là 189,5 tỷ đồng. Lập kế hoạch sản xuất phải có phương án cụ thể từng loại hàng bao rời, thùng, container, bó, kiện vv.. luôn phải nắm được khách hàng, phân loại khách hàng hiện tại, tương lai, đặc biệt khách hàng tiềm tàng có các biện pháp tiếp cận và có giải pháp phù hợp đảm bảo có lợi cả hai phía, từ đó họ đặt niềm tin khi đã kí hợp đồng với cảng . Phối hợp các chiến lược sản xuất, tiếp thị, giá cả và hậu mãi để có chiến lược SXKD cụ thể hiện tại và lâu dài, đáp ứng kịp thời trong mọi hoàn cảnh, phải chiếm lĩnh thị trường và mở rộng thị trường tăng khả năng cạnh tranh, tạo độ tin cậy và giữ uy tín với khách hàng. Cần quan tâm đúng mức các hoạt động bốc xếp tại Hòn Chông, Vàm Cái Sắn , Khu Chế Xuất vv.. đa dạng hóa dịch vụ dần dần sẽ đa dạng hoá ngành nghề nhằm tạo thêm doanh thu và công ăn việc làm cho người lao động . Cải thiện chất lượng dịch vụ và tiết kiệm hạ giá thành, làm tốt các hợp đồng kinh tế đã kí kết ngắn hạn cũng như dài hạn, đặc biệt các hợp đồng dài hạn cần có sự ưu đãi bởi nó mang lại nguồn thu tương đối lớn và cố định hàng năm. Giới thiệu năng lực của cảng qua các phương tiện thông tin đại chúng, quảng cáo, báo chí, tờ rơi, Internet,.. nhằm giới thiệu Cảng Cần Thơ cho khách hàng cả nước và nước ngoài biết, cải cách việc giao dịch quan hệ khách hàng và chủ tàu làm sao để vui lòng khách đến vừa lòng khách đi.

PVxin cảm ơn những thông tin của ông !

BOX Ông Phan Thành Tiến Giám đốc Cảng Cần Thơ tâm sự:

Tôi rất bức xúc khi thấy con em mình ở tỉnh Cần Thơ lại đi xa xứ lập nghiệp, làm đủ các nghề để kiếm sống nuôi thân. Tôi mong muốn trong một thời gian ngắn các dự án đầu tư mở rộng Cảng Cần Thơ, đầu tư công nghệ mới đủ tầm vóc, sức lực cạnh tranh cao với các chủ tàu nước ngoài để họ đến Cảng Cần Thơ ngày càng nhiều. Mục đích chính là tạo ra được nhiều công ăn việc làm cho Đội ngũ CB CNV và những người lao động trẻ. Để họ yên tâm trụ lại quê nhà và sống được bằng chính đồng lương lao động chân chính của mình.

Nhà báo xin trân quý, trân trọng, tán thán, lời tâm sự của hạt giống Bồ đề trong tâm của Giám đốc Phan Thành Tiến.

Cơ quan chủ quản: Tổng công ty Hàng hải Việt Nam

Trong vùng quản lý hàng hải của Cảng vụ: Cảng vụ hàng hải Cần Thơ

Địa chỉ: 27 Lê Hồng Phong, Quận Bình Thủy,phường Trà Nóc, Thành phố Cần Thơ

Tel: (84.710) 3841251 - 3841252 – 3841937

Fax: (84.710) 3841247 / 3842642



========================================================================

Angle time the Hoang Dung Hue
THO PORT
EFFECT OF INVESTMENT IN NEW TECHNOLOGY
Sum last occasion in 2009, the port of Can Tho meeting was held in the press. Journalists have the opportunity quick interview he Phan Thanh Tien, director of Can Tho Port.

PV: It is known that in the Can Tho Port in 2009 reached over 7.5 million tons per year. Maritime Corporation is Vietnam evaluated as a dynamic port in the manufacturing business and has stature as a major seaport in the entire region up in the Cuu Long River. Could you recommend a few traits of this process?
Mr. Phan Thanh Tien:
2009, although the context of world economic and domestic difficulties many changes, leading to the Can Tho Port also encountered difficulties in production and business, but the unit remained the highest growth rate.
But the solidarity to overcome difficulties to the continuous development, fully consistent policies of the Party and State "implement measures to curb inflation, stabilize macro-economy, ensuring an social and sustainable growth "in the spirit of Resolution No. 20/2008/NQ-CP, resulting in a year, Can Tho Port has achieved many achievements, the growth rate this year increased the number and quality, Can Tho Port do business effectively, the lives of his children were raised Experience - The results achieved is the constant striving for collective CNVCLD and attention closely directed by the leader Corporation for Maritime Vietnam Can Tho Port in the process of production and business activities and investment. These are favorable contribution to help Can Tho Port to complete its planned targets in 2008, with achievements such units have been increased excellent emulation of the Corporation and various forms of rewards to individuals and collective.
Reporter: The production of goods through the Port of Can Tho is found any? Efficiency in manufacturing business in 2009?
Mr. Phan Thanh Tien:
Production of goods through the Port of Can Tho in 2009 mainly found food, coal, gypsum, steel, sand export, container, wood ..., this year is the first year was over Can Tho Port 7.5 million tons per year since its establishment, the structure of goods this year with fluctuations in order to increase export mutant is found sand exports constitute a relatively large density of the total production, import goods reduce foreign, domestic goods increased more than the same period last year. Private goods production through 2009 is made 251% KH reached 7,532,827 tons in 2009, compared with last year reached 265%, up 165% to 4,689,729 tonnes (excluding 201,221 tons clinker unloading at the port Binh Tri-Kien Giang to make the output above). Which foreign production is made 6,797,845 tons in KH 296%, compared with last year reached 328%, up 228% to 4,723,370 tons tons. For the work done by imported 190,851 tons of 100% KH year, compared with last year reached 73%, down 27% with 72,073 tonnes tonnes. With regard to the Inland Port of Can Tho done: 544,131 tons, reaching 106% KH year, compared with last year reached 108%, up 8% to 38,432 tons tons. In addition, containers made in 2009: 8052 TEUs, reaching 34% KH, compared with last year reached 39%, 61% reduced the number of 12,854 TEUs. Specifically, unloading Average Yield: 21,689 tons / day. Ships from 2009 to 5000 was 761 tons weekly, while the 2008 only 216 turn.
Besides the basic production plan which set out the general director of Can Tho Port, units also take advantage of capabilities and advantages to reaching out to provinces, which must be present at all over Mekong Delta provinces like An Giang, Kien Giang, Ca Mau, Dong Thap ... to find jobs for his workers with the aim of increasing revenues for the unit. Specifically in 2009 Port of Can Tho clinker unloading Holcim customers, Kien Giang, Can Tho Port to near 200 km, make loading and unloading train was 36, achieved production of 201,221 tons of 126% KH, over the same period last year 2008 reached 111%, up 11%. Can Tho Port has completed outstanding tasks assigned.
Total sales made in 2009 are: 118,646,723,366 VND KH whole year reached 106%, compared to the same period last year reached 118%, up 18% of the amount of 18,188,970,832 VND.

Reporter: Could you tell us the effectiveness of new investment projects to expand the reach Can Tho Port match the Cuu Long river delta?
Mr. Phan Thanh Tien:
Can Tho Port was trying to market, attract customers, expand market share, increase competitiveness, quality of service focus and strengthen the business to expand production areas in the provinces of Cuu Long Delta , strengthening business development services and sales of maritime trade. 2009 Can Tho Port to take advantage of all available resources promoting any possibility for production planning as well as outside the plan, looking for external services to increase revenue and create jobs for CBCNVC, avoid wasting assets and labor and capital to ensure good completion targets sales of units, increasing the unit's revenue this year over plans and high growth compared to 2008.
Profit situation in 2009: Can Tho Port to use the saving measures in all aspects especially minimize costs to lower the cost of management, harbor seriously implementing the Circular and the Directive and Decision the upper level of management, the measures set out in savings really take effect, in particular Port of Can Tho reached the total profit before tax: 4,304,365,198 VND, gaining 113% increase 13% with KH 504,365,198 the amount, over the same period last year reaching 78% off 22% of the amount of 1,217,886,099 VND.
Achieve results as demonstrated in 2009 on the Can Tho Port has been striving constantly, by every measure to increase productivity, save costs, avoid waste, increase activities in and outside the service area to increase sales business effectively. Port always strictly comply with the provisions of the State tax, tax paid in 2009 is 3,045,094,650 VND. Work construction investment, equipment procurement in 2009 Can Tho Port is 81.5 billion.
The average salary per month was 5.4 million, income per person per month was 5.8 million. Wages and income of the staff increasing, higher than in previous years as follows (including salaries 13).
Particularly for the work of unloading and transport, 2009 Can Tho Port has a total of about 73 vehicles, including cranes, forklifts, trucks, head scissors, Peter trailer, tug and barges. The means to regularly check for better service and maintenance for production. Team Shore Crane, crane ships and marine transportation of completed the tasks assigned. Team crane unloading ship made: 250,840 tons, BX KH reached 103% increase 03%, in which loading and unloading at terminals Holcim plant: 201,221 tanBX reached 126% KH increased 26%. Foreign ships duoc114 weekly 95% KH. Internal vessel reached the 20 weekly 22% KH.

Reporter: Orientation production and business targets of the Port of Can Tho in 2010?
Mr. Phan Thanh Tien:
In 2010, with forecasts world economic situation is still complicated fluctuations, affecting the development of the country, so will affect production business units. Can Tho Port striving to overcome difficulties and complete the business plan targets, improve their lives and stable incomes for workers.
Based on the results of business in 2009 and received on the basis of the business situation in 2010, scheduled cargo traffic situation be more positive than in the sand than face more fluctuations in the demand for sand for Singapore and Policy management of the Government of Vietnam, so the structure of goods in 2010 does not consider the amount of sand exports, the rest other commodities will stabilize and increase the output of the Can Tho Port Information: 1,200,000 tons (no sand exports) compared to 2009 made up 34%. In which Goods exports were 251,000 tons compared to 2009 reaching 157% done, goods imports were 253,000 tons compared with 2009 to reach 133% implementation, Domestic Goods are made compared to 696,000 tons in 2009 to reach 128%, Container TEUs compared duoc12.000 made in 2009 reached 149%. Production of goods through the Port of Can Tho in 2010 mostly found strategies such as food, coal, gypsum, container, clinker, steel, wood, etc.. The production depends heavily on objective factors, to complete the plan in 2010 really is not easy, so all CBCNVC must constantly strive to complete all aspects of the plan. Also Can Tho Port must also perform work for unloading at the port company Holcim Tri Binh - Kien Giang and plans about 200,000 tons, not included in the output above. Container is found accounting strategies relative density of the total output of goods so we are more interested in long-term strategy to work loading and unloading of vehicles and container technology, to meet production requirements appearance and in the future.
Financial Plan targets in 2010 as total revenues net reached 65 billion, the total cost to reach the entire 63 billion, total profit reached 2 billion
Investment plan in 2010 is 189.5 billion. Production planning to have specific plans for how each type of goods leaving, barrels, containers, bundles, etc. .. Events You know what the customer is always right, classification current customers, future, especially potential customers have access to measures and appropriate solutions to ensure both sides benefit from the trust they placed signed with the harbor. Coordinate production strategies, marketing, pricing and after sales to strategic business specific current and long-term, timely response in all circumstances, to dominate the market and increase market expansion competitiveness, create credibility and reputation to keep customers. Need due attention loading and unloading activities in Hon Chong, Vam built, Zones, etc. .. diversification of services will gradually diversify industries to generate more revenue and jobs for workers. Improve service quality and lower the cost of savings, as well the economic contract signed short-term and long term, especially long-term contract should have the incentive because it offers relatively revenues large and fixed annually. Introduced through the port capacity of the mass media, advertising, newspapers, leaflets, Internet, .. Can Tho Port to introduce clients to know the country and abroad, the reform of the transaction and customer relationship ship owners how to please guests to please both new customers.

PVxin thanked his information!

BOX Mr. Phan Thanh Tien Tho Port Director confided
I am very urgent that the child in the province of Can Tho Now expatriates to set up business, do enough to make a living farming the job itself. I look forward to in a short period of investment projects to expand Port of Can Tho, investments new technologies enough stature, energy competitive with foreign ship owners for them to Can Tho Port more. The main goal is to create more jobs for employees and CB team workers children. Left to their comfortable home and live head is in the salary of their employees true.
Journalists would like you, respectfully, on approval, Testimony from the seeds of Styrax in the mind of the director Phan Thanh Tien.



Governing body: Corporation Vietnam Maritime
In the management of the Port Maritime: Maritime Port of Can Tho
Address: 27 Le Hong Phong, Binh Thuy ward Tra Noc, Can Tho City
Tel: (84,710) 3841251 - 3841252-3841937
Fax: (84.710) 3841247/3842642


DỆT MAY VIỆT NAM CHỦ ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU 2010

Ông Lê Trung Hải, phó Tổng giám đốc Tập doàn Dệt may Việt Nam
trả lời các câu hỏi của các nhà báo

Toàn cảnh họp mặt báo chí


Các nhà báo góp ý cho tập đoàn dệt may



Chào 2010, chúc tập đoàn Dệt may Việt Nam chủ động trong kinh doanh xuất nhập khẩu mang lợi nhuận cao trong doanh thu cho Công nhân ngành dệt may

Góc Thời sự Hoàng Dũng Huệ

DỆT MAY VIỆT NAM

CHỦ ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU 2010

Tập đoàn Dệt may Việt Nam họp mặt báo chí cuối năm. Nhân dịp này, nhà báo đã có dịp phỏng vấn nhanh ông Lê Trung Hải, phó Tổng giám đốc Tập doàn Dệt may Việt Nam về những vấn đế hiệu quả sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu dệt may. Các dự án đầu tư trong năm 2009.

PV: Xin ông giới thiệu một vài số liệu tiêu biểu trong sản xuất công nghiệp, kết quả sản xuất kinh doanh xuất khẩu dệt may Việt Nam?

Ông Lê Trung Hải:

Năm 2009 là tâm điểm của cuộc khủng hoảng và suy thoái knh tế toàn cầu cũng là năm hết sức khó khăn đối với nền kinh tế việt Nam nói chung và ngành dệt may Việt Nam nói riêng nhưng với sự nỗ lực vượt bậc của các doanh nghiệp cùng với các chính sách và các biện pháp chống suy giảm kinh tế thông qua các gói kích cầu bù lãi suất, hỗ trợ đầu tư, xúc tiến thương mại của Chính phủ mà ngành dệt may Việt Nam và các doanh nghiệp thành viên Tập đoàn dệt May Việt Nam đã trụ vững, duy trì sản xuất, bảo đảm việc làm và đời sống cho người lao động với những kết quả đáng khích lệ: Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 14.712,6 tỷ đồng, đạt 103% và Tổng doanh thu đạt 24.710,7 tỷ đồng, đạt 104% so với cùng kỳ 2008. Giá trị gia tăng trong sản phẩm dệt may tăng năm 2009 là gần 44%, tăng đáng kể từ mức 37% nội địa hóa của năm 2008. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn điều lệ đạt trên 14%. Trong đó các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả cao gồm: Dệt Phong Phú, Sợi Phú Bài, Việt Thắng, Dệt Công nghiệp Hà Nội, Dệt lụa Nam Định, May Việt Tiến, May 10, May Nhà Bè, May Đức Giang, May Hưng Yên, May Phương Đông, May Bình Minh, May Chiến thắng, May Đồng Nai, May Nam Định, May Đáp Cầu, hạ tầng dệt may Phố Nối, Đầu tư Phát triển Bình Thắng, TM Dệt may TP Hồ Chí Minh, hợp tác lao động và Thương mại. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có tăng trưởng và hiệu quả gồm có: Dệt Đầu Tư Phước Long, May mặc xuất khẩu Tân Châu, SX XNK Dệt May, CP CKM Gia LÂm, TVXD và DVĐT, Dệt May Đông Á và Dệt May Huế.

PV:Giá trị xuất nhập khẩu dệt may Việt Nam năm 2009 như thế nào?

Ông Lê Trung Hải:

Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt 9,1 tỷ USD ngang với năm 2008 trong điều kiện thị trường dệt masy thế giới giảm trung bình 15%, tất cả các nước xuất khẩu dệt, may lớn đều giảm kim ngạch thì Việt Nam giữ được như năm 2008 là một hiện tượng đặc biệt. So với các ngành xuất khẩu khác của Việt Nam thì dệt may đã trở thành ngành xuất khẩu lớn nhất cả nước, trong khi kim ngạch xuất khẩu Việt Nam năm 2009 giảm 10% so với 2008 thì việc dệt may giữ được mức kim ngạch như năm 2008 là một thành tích góp phần quan trọng vào việc ngăn chặc đà suy giảm của xuất khẩu, góp phần rất qua trọng vào việc giảm nhập siêu năm 2009. Trong đó Vinatex đạt 1,7 tỷ USD gần bằng 103% so với năm trước. Thị phần tại các thị trường xuất khẩu chính như Mỹ, EU và Nhật Bản đều tăng mạnh trong năm 2009. Riêng thị trường Mỹ tăng từ mức 3,4% (2008) lên trên 5% (2009). Xuất khẩu dệt may Việt Nam vào EU chỉ giảm 3,5% ( mức chung 11%). Xuất khẩu Việt Nam sang Nhật Bản tăng trên 15% so với 2008. Doanh thu nội địa toàn ngàng ước tính trên 60.000 tỷ đồng, tăng khoảng 15% so với 2008 với mạng lưới phân phối 15.000 cửa hàng và đại lý tiêu thụ, trong đó Vinatex khoảng 12.803 tỷ đồng và hơn 3000 cửa hàng.

PV: Xin ông cho biết hiệu quả các dự án đầu tư mới trong ngành dệt may đã được thực hiện trong năm 2009?

Ông Lê Trung Hải:

Các dự án đầu tư đã được thực hiện trong năm 2009 là 38 dự án, gồm có 13 dự án về sợi, 8 dự án về dệt và 17 dự án về may mặc. Trong đó có các dự án trọng điểm đã hoành thành và đi vào sản xuất như: sợi Hòa Thọ, sợi Phú Bài, Veston Hải Phòng, di dời Dệt kim Đông Phương. Xử lý nước thải Nam Định. Các dự án đã khởi công và đang xây dựng như Xơ Polyester Đình Vũ, Sợi Hồng Lĩnh, May Sơn Động, 1 Trang trại bông mẫu tại Nha Hố.

PV: Với Tổng doanh thu đạt 24.710,7 tỷ đồng trong năm 2009, vậy Dệt may Việt Nam có vai trò gì trong việc hỗ trợ cộng đồng, người lao động, An sinh Xã hội?

Ông Lê Trung Hải:

Tổng quĩ lương toàn ngành gần đạt 35.500 tỷ đồng. Riêng các doanh nghiệp trong tập đoàn trên 3.300 tỷ đồng với mức thu nhập bình quân: 2,4 triệu đồng/người/tháng. Thực hiện nghị quyết 30a của Chính Phủ, Tập đoàn Dệt May Việt Nam đã giúp huyện Sơn Động trong năm 2009 về xây dựng nhà cho người nghèo, khám chữa bệnh, tạo việc làm, đào tạo nghề, các hoạt động từ thiện khác.v.v với số tiền lên tới 17 tỷ đồng. Tập đoàn là một trong những đơn vị khởi xướng “Chương trình đồng hành cùng các doanh nghiệp dệt may Việt Nam vì đồng bào biển đảo của Tổ quốc”. Ngay trong năm 2009, Tập đoàn và các đơn vị thành viên đã đóng góp hơn 5 tỷ đồng cho người nghèo tại các tỉnh Quảng Ngãi, Trà Vinh, Sóc Trăng.v.v. Tập đoàn Dệt May cũng đã hỗ trợ tiền, quà cho đồng bào các vùng chịu ảnh hưởng của thiên tai lũ lụt trong năm 2009 như Phú Yên, Quảng Ngãi.v.v.

PV: Mục tiêu trong Sản xuất công nghiệp và Kinh doanh của Dệt May Việt Nam trong năm 2010?

Ông Lê Trung Hải:

Trong năm 2010, toàn ngành Dệt May phấn đấu đạt giá trị Sản xuất Công nghiệp tăng trưởng trên 12%, doanh thu tăng 10%, kim ngạch xuất khẩu tăng 12%, thu nhập bình quân tăng 10%, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đạt trên 12,9%, tổng vốn đầu tư dự kiến trên 1.100 tỷ đồng. Tập trung vào các chương trình hành động như nâng cao năng suất và hiệu quả của bộ máy, thực hành tiết kiệm trong mọi lĩnh vực. Thực hiện các nhiệm vụ trong chương trình chiến lược theo Quyết Định 36/CP. Đầu tư có trọng điểm tạo đột phá về năng suất, công nghệ và cải thiện giá trị gia tăng. Tiếp tục xây dựng mới quan hệ lao động hài hòa trong doanh nghiệp. Hoàn thành chuyển đổi mô hình hoạt động của Tập Đoàn theo Luật Doanh nghiệp. Tập trung đào tạo các cán bộ, công nhân có tay nghề cao, kịp thời động viên, khen thưởng các lao động giỏi, có sang kiến kinh nghiệm nhằm tạo một lực lượng nòng cốt trong hoạt động Sản xuất Kinh doanh.

PV : Xin cảm ơn những thông tin của ông!

===============================================================


Corner Time of Hoang Dung Hue
VIETNAM TEXTILE & GARMENT
HOME BUSINESS EXPORT 2010

Vietnam Textile and Garment Group meeting the press last year. On this occasion, journalists had a chance to interview Mr. Le Trung Hai fast, Deputy General Director, Vietnam Textile and Garment Group on issues of production and business efficiency, export and import of textiles. The investment projects in 2009.

Reporter: Could you introduce some typical data in industrial production, production and business results textile export to Vietnam?

Mr. Le Trung Hai
2009 is the focal point of crisis and recession knh Global is also very difficult year for the Vietnamese economy in general and textile and Vietnam in particular, but the gigantic efforts of the business career with the policies and measures against declining economic stimulus packages through the interest rate subsidy, support investment and trade promotion of the Government of the textile enterprises of Vietnam and member of Tap Vietnam Textile and Garment Group has stayed, maintaining production, ensure jobs and living standards for workers with encouraging results: The value of industrial production reached 14,712.6 billion, reaching 103% and Total turnover reached 24,710.7 billion, reaching 104% over the same period in 2008. Value of textile products increased in 2009 is nearly 44%, up significantly from the 37% local content by 2008. Rate of return on capital reached over 14%. In which firms produce business efficiencies, including: Phong Phu Textile, Yarn Phu Bai, Vietnam Thang, Hanoi Textile Industry, Textile silk Nam Dinh, Vietnam May Tien, May 10, May Nha Duc Giang Garment , May Hung Yen, Phuong Dong Garment, April Dawn, May victory, May Dong Nai, Nam Dinh Garment, May A bridge, infrastructure textile Pho, Binh Thang Development Investment, TM Ho Chi Minh Textile , co-workers and Trade. Enterprises manufacturing business growth and efficiency include: Textile Investment Phuoc Long, Tan Chau Garment Export, Import & Export Textile Manufacturing, CKM CP Gia Lam, and TVXD DVDT, East Asia and Textile Textile Hue.

Reporter: import and export value of textiles in 2009 Vietnam like?

Mr. Le Trung Hai
Export turnover in the whole industry reached 9.1 billion level for 2008 in terms masy world textile market decreased on average 15%, all countries exporting textiles and garments are major reduced turnover, Vietnam retain 2008 as a special phenomenon. Compared to other export sectors of Vietnam, the textile industry has become the country's biggest export, while export turnover of Vietnam in 2009 decreased 10% compared to 2008 is the textile safeguard their turnover rates as 2008 is an important achievement contributed to the decline of preventing certain export contribution is the key to reducing the trade deficit in 2009. Vinatex which reached nearly $ 1.7 billion by 103% over the previous year. Market share in major export markets like the U.S., EU and Japan increased sharply in 2009. Particular the U.S. market increased from 3.4% (2008) to over 5% (2009). Vietnam garment and textile export to EU down only 3.5% (overall rate 11%). Vietnam exports to Japan increased over 15% compared with 2008. Inland Revenue on all ngàng estimated 60,000 billion, up about 15% compared to 2008 with the distribution network 15,000 stores and agents of consumption, of which approximately 12,803 Vinatex billion and more than 3,000 stores.

Reporter: Could you tell us the effectiveness of new investment projects in the textile sector was made in 2009?

Mr. Le Trung Hai
The investment projects were implemented in 2009 is 38 projects, including 13 projects of fiber, 8 projects and 17 projects for textile garments. Including key projects and the diaphragm to go into production, such as: Hoa Tho fiber, yarn, Phu Bai, Veston Hai Phong, Dong Phuong Knitting relocation. Wastewater Nam Dinh. The project has started and is building the Dinh Vu polyester fiber, yarn Hong Linh, May Shandong, one page form at their cotton farm.

Reporter: With a total turnover reached 24,710.7 billion in 2009, so Vietnam Textile and Garment has what role in supporting the community, workers, Social Security?

Mr. Le Trung Hai
Total funds pay almost the whole industry reached 35,500 billion VND. Private enterprises in the 3300 billion corporation income average: 2.4 million VND / person / month. 30A implementation of resolutions of the Government, Vietnam Textile and Garment Group has helped Son Dong district in 2009 to construct houses for poor medical treatment, job creation, vocational training, and other charitable activities. etc with amounts up to 17 billion. Group is one of the unit initiates a program co-operated with the textile business because of the Vietnam Fatherland cell islands of the sea. Right in 2009, the corporation and the unit members have contributed more than $ 5 billion for the poor in Quang Ngai province, Tra Vinh, Soc Trang.vv Vinatex also support money, gifts for the cell areas affected by natural disasters such as floods in 2009, Phu Yen, Quang Ngai.vv

Reporter: The objective of the Industrial Production and Sales of Textile in Vietnam in 2010?
Mr. Le Trung Hai
In 2010, the whole textile sector strives for value manufacturing industry growth of 12%, revenue increased 10%, export value increased 12%, average income increased 10% profit rate on which reached over 12.9%, total investment is expected over 1,100 billion. Focus on action programs such as improving productivity and efficiency of the apparatus, thrift in all areas. Perform tasks in the program strategy Decision 36/CP. Investment is key to create breakthroughs in productivity, technology and improved value. Continue building a new harmonious labor relations in enterprises. Complete paradigm shift operation of the Group under the Enterprise Law. Focus on training staff, skilled workers, timely encouragement, reward good workers, have detailed experience in order to create a core force in the manufacturing business activity.
Reporter: Thank you his information!